Hotline tư vấn02436783333

Bệnh vảy nến - khó chữa mà dễ tái phát

Vảy nến là bệnh mạn tính, tiến triển từng đợt, dai dẳng, căn nguyên của bệnh chưa rõ. Bệnh thường gặp ở Việt Nam và các nước trên thế giới.

Tỷ lệ bệnh vảy nến chiếm khoảng 2-3% dân số tùy theo từng khu vực. Ở Việt Nam, theo số liệu thống kê tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2010, tỷ lệ bệnh nhân vảy nến chiếm khoảng 2,2% tổng số bệnh nhân đến khám bệnh.

Hình thái lâm sàng của bệnh vảy nến đa dạng, ngoài thương tổn da còn có thương tổn niêm mạc, móng và khớp xương. Do ảnh hưởng của thuốc điều trị, hình ảnh lâm sàng của bệnh thay đổi, nhiều trường hợp khó chẩn đoán.
 
benh vay nen
 

1. NGUYÊN NHÂN

Căn nguyên của bệnh vảy nến chưa rõ. Người ta cho rằng bệnh vảy nến có liên quan đến rối loạn miễn dịch và yếu tố di truyền, thương tổn bùng phát khi gặp những yếu tố thuận lợi.

- Yếu tố di truyền: bệnh vảy nến thường gặp ở những người có HLA-B13, B17, BW57 và CW6. Đặc biệt gen HLA-CW6 gặp ở 87% bệnh nhân vảy nến.

- Cơ chế miễn dịch: người ta nhận thấy có sự thay đổi miễn dịch ở bệnh vảy nến. Các tế bào miễn dịch được hoạt hoá tiết các hoạt chất sinh học có tác dụng thúc đẩy tăng sinh, làm rối loạn quá trình biệt hoá tế bào sừng.

- Các yếu tố thuận lợi như stress ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần; tiền sử bệnh  nhân  mắc các  bệnh  mạn  tính,  bị  chấn  thương,  nhiễm  khuẩn  hoặc  sử  dụng thuốc. Đặc biệt  là đối  với các bệnh nhân đã dùng  corticoid, các đông, nam  dược không rõ nguồn gốc, không rõ thành phần và chưa được đánh giá hiệu quả trong điều trị bệnh; bệnh nhân có tiền sử rối loạn nội tiết, rối loạn chuyển hóa hoặc nghiện rượu.

2. BIỂU HIỆN

Thương tổn da: điển hình là những dát đỏ, giới hạn rõ với da lành, trên dát phủ vảy da dễ bong. Đặc điểm của dát thường có màu đỏ hoặc hồng, số lượng thay đổi, kích thước khác nhau, ranh giới rõ với da lành, hình tròn hoặc bầu dục, hoặc hình nhiều vòng cung, ấn kính mất màu, sờ mềm, không thâm nhiễm, không đau.
- Vị trí thương tổn thường ở chỗ tỳ đè, vùng hay bị cọ sát như khuỷu tay, đầu gối, mấu chuyển, mặt duỗi các chi, chỗ bị sang chấn hay vết bỏng, sẹo, vết cào gãi gọi.

- Thương tổn có khuynh hướng đối xứng. Đặc điểm của vảy da là khô,gồm nhiều lớp xếp chồng lên nhau, độ dầy không đều, dễ bong, màu trắng đục như xà cừ, phủ kín toàn bộ dát đỏ hoặc phủ một phần, thường để lại vùng ngoại vi.

Cạo vảy: dùng thìa nạo cùn cạo trên thương tổn vảy nến từ vài chục đến hàng trăm lần thì thấy đầu tiên là vảy da bong thành lát mỏng có màu trắng đục. Tiếp tục cạo sẽ thấy một màng mỏng bong ra (gọi là màng bong). Dưới lớp màng bong bề mặt đỏ, nhẵn, bóng, có những điểm rớm máu.
 
bệnh vảy nến gây tổn thương ở móng
 
 

Thương tổn móng: chiếm khoảng 30-50% tổng số bệnh nhân vảy nến, thường kèm với thương tổn da ở đầu ngón hoặc rải rác ở toàn thân. Thương tổn móng có thể là những chấm lõm ở mặt móng (dạng cái đê khâu) hoặc những vân ngang; móng mất trong, có những đốm trắng hoặc thành viền màu vàng đồng; bong móng ở bờ tự do; dày sừng dưới móng cùng với dầy móng và mủn; có thể biến mất toàn bộ móng để lại giường móng bong vảy sừng.

 Ở vảy nến thể mủ thấy các mụn mủ dưới móng hoặc xung quanh móng.

Thương tổn khớp: chiếm khoảng 10-20% tổng số bệnh nhân vảy nến. Biểu hiện là đau các khớp; hạn chế và viêm một khớp; viêm đa khớp vảy nến, hình ảnh lâm sàng giống viêm đa khớp dạng thấp.

Thương tổn niêm mạc: thường gặp ở niêm mạc qui đầu. Đó là những vết màu hồng, không thâm nhiễm, giới hạn rõ, ít hoặc không có vảy, tiến triển mạn tính.  Ở lưỡi thương tổn giống viêm lưỡi hình bản đồ hoặc viêm lưỡi phì đại tróc vảy; ở mắt biểu hiện viêm kết mạc, viêm giác mạc, viêm mí mắt.


3. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG

- Bệnh tiến triển từng đợt, xen kẽ những đợt bùng phát là thời kỳ tạm lắng.

- Khi thương tổn biến mất hoàn toàn gọi là “vảy nến yên lặng”.

- Khi chỉ còn một vài mảng thương tổn khu trú ở vị trí nào đó, tồn tại dai dẳng trong nhiều tháng, nhiều năm gọi là “vảy nến ổn định ”. Vì vậy, khi sạch thương tổn da cũng không thể coi là bệnh đã khỏi hoàn toàn.

Biến chứng
 
- Bệnh diễn biến lâu ngày có thể gây chàm hóa, lichen hoá, bội nhiễm. Ung thư da hiếm gặp.
- Đỏ da toàn thân.
- Vảy nến thể khớp có thể làm biến dạng khớp, cứng khớp, nhất là cột sống.
 
 
phòng ngừa bệnh vảy nến
 
 
6. PHÒNG NGỪA

Da của bệnh nhân chàm thường rất dễ kích ứng với các chất như xà phòng, độ ẩm.. do đó bệnh thường nặng lên vào mùa đông và khi thời tiết khô hanh.
 
- Bệnh nhân không nên tắm quá 1 lần/ngày, không nên ngồi tắm trong nước xà phòng.
- Xà phòng chỉ dùng ở vùng nách, bẹn, tay, chân và chỉ dùng ngay trước khi xả nước tức là lúc gần kết thúc tắm.
- Sau khi tắm xong nên thấm cho khô da ( không lau) sau đó bôi kem dưỡng ẩm trên da.
- Không nên tắm nước quá nóng vì tắm nước nóng có thể gây ngứa rát cho bệnh nhân.
- Nên tránh giặt giũ quần áo và trà sát da, không nên dùng những loại xà phòng gây khô da.
- Một số trẻ nhỏ xuất hiện ngứa khi toát mồ hôi do đó tránh quá nóng cho bệnh nhân.
- Bệnh nhân có thể bị kích ứng với các sợi bông, sợi acrylics do đó nên mặc quần áo rộng, chất liệu cotton.
- Hạn chế những loại thức ăn dễ gây kích ứng, hạn chế tiếp xúc với nấm mốc, phấn hoa, khói bụi.
- Test để kiểm tra chính xác nguyên nhân gây dị ứng để tránh tuyệt đối.
- Hạn chế tiếp xúc với hóa chất: đeo găng tay khi rửa bát, giặt quần áo....
- Thận trong khi dùng mỹ phẩm: hạn chế tối đa việc dùng mỹ phẩm, trong trường hợp cần dùng thì nên lựa chọn loại mỹ phẩm quen thuộc, khi muốn chuyển sang loại mới nên test da thử trước khi dùng. 
 
Rating: 0 / 5 sao 0 Lượt đánh giá
Pharma